Tìm hiểu chung
Tên gọi, danh pháp
Tên Tiếng Việt: Râu hùm.
Tên khác: Phá lủa (Tày), Ngải rợm, Nưa, Cẩm địa la, Râu hùm hoa tía, Ping đô (Kdong), Cu dòm (Bana).
Tên khoa học: Tacca chantrieri Andre hoặc Tacca paxiana Limpr. Thuộc họ Râu hùm (Taccaceae).
Đặc điểm tự nhiên
Cây thuộc loài thân thảo, sống dai dưới tác động của tự nhiên. Thân rễ có hình gần trụ, mọc bò dài, trên rễ có đốt. Lá hình mác thuôn hoặc trái xoan bầu, chiều dài khoảng 50 cm, chiều rộng từ 20 cm đến 25 cm, có đầu nhọn, mặt trên lá có màu lục sẫm, nhẵn bóng, mặt dưới lá có ít lông nhỏ, mép lá nguyên, lượn sóng, gân nối rõ ở mặt dưới, cuống lá có bẹ, hình lòng máng, dài đến 30 cm.
Cụm hoa mọc trên thẳng hoặc cong thành tán, ngắn hơn lá, nhẵn hoặc có ít lông, có 4 lá bắc rộng, hình tim, không cuống, các lá này mọc đối chéo nhau, hai lá to đối chéo hai lá nhỏ, lá có màu lục, tía hoặc tím đen; lá bắc con dạng sợi dài cùng màu với lá chính, số lượng hoa từ 15 đến 20 cái mỗi cây, hoa có màu tím đen, bao hoa hình đấu gồm 6 thùy; 6 nhị, chỉ nhị đính vào giữa bao hoa, bầu hoa có hình nón ngựợc, có 6 cạnh nổi gò lên. Quả nang dài, màu đỏ tím, bên trong có hạt hình thận, có vân dọc. Hoa nở từ tháng 7 đến tháng 8, mùa quả từ tháng 9 đến tháng 10.
Cây râu hùm loài cây có hoa như mặt cọp
Hai dạng phổ biến của râu hùm trong tự nhiên là:
-
Dạng cây tím bao gồm: Cuống lá, cụm hoa và quả màu tím, 4 lá bắc xếp chéo chữ thập hoàn toàn.
-
Dạng cây xanh bao gồm: Cuống lá, cụm hoa và quả màu lục, 4 lá bắc chéo chữ thập không hoàn toàn, 2 lá bắc trong có phiến lệch xếp chổng lên nhau một phần.
Cây có công dụng tương tự với các cây sau đây: Phá lủa (Tacca subflabellata P.P. Ling et C.T. Ting)- cùng họ. Đây là loài mới được phát hiện ở Việt Nam. Hình thái của cây giống loài Tacca chantrieri Andr., chỉ khác là thân rễ lớn hơn, hai lá bẳc trong có hình quạt lớn, đỉnh tròn, chiều rộng lớn hơn chiều cao 1,5 – 2 lần, xếp chồng lên nhau tỉ lệ 1/3, bao hoa có 6 mảnh đồng đều.
Phân bố, thu hái, chế biến
Chi Tacca Forst et Forst f. có khoảng hơn 10 loài trên thế giới, là các cây thân thảo thường có màu xanh, có phần trên mặt đất lụi tàn hàng năm vào mùa đông. Chúng phân bố rải rác khắp vùng nhiệt đới châu Phi, châu Á, châu Đại Dương.
Ở Việt Nam, chi này có tổng cộng 6 loài, trong đó râu hùm là loài có diện tích phân bố lớn nhất. Theo thống kê chưa đầy đủ của Viện Dược liệu từ năm 1986, râu hùm đã phát hiện được ở 26 tỉnh trung du và miền núi. Vùng phân bố của cây chủ yếu tập trung ở các tỉnh miền núi từ Tây Nguyên trở ra, bao gồm Sơn La, Kon Tum, Gia Lai, Quảng Nam, Nghệ An, Quảng Bình, Ninh Bình, Thanh Hoá, Hoà Bình, Yên Bái, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Thái Nguyên,…
Trên thế giới, vùng phân bố của râu hùm được xác định từ Nam Trung Quốc xuống khu vực Đông Dương và một số nước Đông Nam Á khác.
Râu hùm là loài cây ưa ẩm và ưa bóng, cây sẽ mọc rải rác hay tập trung thành từng đám dọc theo những bờ khe suối, dưới tán rừng, những nơi có bóng mát. Cây thảo ưa ẩm mọc xen kẽ với râu hùm gồm có vạn niên thanh rừng, thiên niên kiện, thu hải đường (Begonia spp.)…
Râu hùm mọc trên đất ẩm, đặc biệt ở vùng nhiều mùn với độ pH tầm 4,5 – 6,5. Cây ra hoa, kết quả hàng năm. Thông thường, trên mỗi cây sẽ có từ 1 đến 2 cụm hoa. 50% hoa sẽ kết quả.
Quả râu hùm khi già tự mở, hạt sẽ được đẩy ra ngoài. Từ hạt, với điều kiện thuận lợi, cây con sẽ được tạo thành, thời gian phù hợp thường vào khoảng tháng 4, tháng 5, cây sẽ phát triển tầm 3 năm rồi đơm hoa, kết quả.
Khả năng tái sinh dinh dưỡng của râu hùm thuộc dạng khỏe. Dùng một đoạn thân rễ vùi xuống đất đã có thể tạo thành một cây mới. Tỷ lệ nảy mầm của phần đầu mầm thân rễ sẽ đạt cao nhất (100%), với các phần khác tỷ lệ này sẽ giảm, hoặc không nảy mầm.
Sản lượng râu hùm ở Việt Nam có thể lên tới vài ngàn tấn. Dù không bị khai thác, nhưng nạn phá rừng cũng làm ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sống của râu hùm.
Bộ phận sử dụng
Bộ phận sử dụng được của râu hùm là thân rễ. Thân rễ được thu hái quanh năm, sau đó rửa sạch, thái thành lát, và phơi khô.
